NGUYỄN THỊ YẾN PHƯỢNG TECH-TO-VALUE™

Từ một cô gái học kế toán đến hành trình kết nối kỹ thuật với giá trị thương mại

Tôi là Nguyễn Thị Yến Phượng.

Nguyễn Thị Yến Phượng

Nhìn vào công việc của tôi hôm nay – làm việc với máy móc, thiết bị, kỹ sư, nhà máy, hãng sản xuất và những thương vụ B2B công nghiệp – có lẽ ít ai nghĩ rằng tôi vốn không xuất thân từ kỹ thuật.

Tôi bắt đầu từ kế toán. Tôi cũng chưa từng nghĩ rằng một ngày mình sẽ dành 30 năm để đi giữa những nhà máy kéo sợi, những bản thông số kỹ thuật, những cuộc đàm phán và những quyết định đầu tư trị giá lớn. Con đường ấy đến với tôi gần như từ một cơ duyên.

Có những con đường ban đầu mình không lựa chọn, nhưng chính cách mình bước đi lại tạo nên con người mình sau này.

TÔI TỪNG CHỈ MONG MỘT CUỘC SỐNG ỔN ĐỊNH

Tôi sinh ra tại xã Quê Mỹ Thạnh, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, trong một gia đình có ba chị em. Ba tôi là Hiệu trưởng trường tiểu học. Má tôi ở nhà nội trợ và dành phần lớn thời gian chăm sóc gia đình. Tuổi thơ của tôi khá bình dị.

Ba đi dạy. Má lo cho gia đình. Ba chị em chúng tôi đi học và lớn lên giữa một miền quê yên bình. Tôi học rất giỏi , đặc biệt thích môn Văn và tiếng Anh. Khi ấy, tôi không nghĩ nhiều đến chuyện làm doanh nhân hay xây dựng một công ty. Tôi chỉ có một mong muốn rất đơn giản:

Học xong, tìm 1 công việc ổn định, có thu nhập và phụ giúp Ba Má.

Từ nhỏ, tôi lại có một ấn tượng khá đặc biệt với tiền. Cô và Dượng của tôi đều làm ngân hàng. Mỗi dịp Tết về nhà Nội, tôi thường thấy Cô và Dượng cầm trên tay những tờ tiền mới, rất đẹp, phẳng phiu và được xếp ngay ngắn. Tôi thích mê. Lúc đó tôi chẳng hiểu gì về tài chính, dòng tiền hay kinh doanh. Tôi chỉ nghĩ rất hồn nhiên:

Làm ngân hàng chắc sẽ có cuộc sống tốt đẹp như Cô và Dượng.

Và thế là tôi chọn học kế toán. Tôi nghĩ cuộc đời mình có lẽ sẽ đi theo con đường khá rõ ràng. Nhưng rồi biến cố xảy ra : Gia đình tôi tiếp quản một nhà máy xay gạo. Ban đầu, đó là một cơ hội được đặt nhiều kỳ vọng. Nhưng thị trường khó khăn, hàng bán chậm, tiền bị khách hàng chiếm dụng. Trong khi phải trả vốn và lãi vay. Công việc kinh doanh dần vượt khỏi khả năng kiểm soát.

Năm 1999, gia đình tôi mất gần như toàn bộ nhà cửa, đất đai và tài sản. Ba Má rời quê lên Bình Phước và bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Tôi đã tận mắt nhìn thấy gia đình đang tương đối ổn định và đã thay đổi chỉ trong thời gian rất ngắn.

Biến cố ấy để lại trong tôi bài học mà sau này, khi đã trực tiếp kinh doanh, tôi mới hiểu hết:

Một quyết định kinh doanh không chỉ ảnh hưởng đến con số trên sổ sách, mà còn ảnh hưởng đến dòng tiền, tài sản, sự an toàn và thậm chí đến cuộc sống của cả gia đình.

Từ đó, tôi trở nên thận trọng hơn với tiền bạc. Tôi càng muốn có công việc ổn định. Tôi chưa biết rằng chỉ ít lâu sau, chính công việc lại đưa tôi sang một thế giới hoàn toàn khác.

LỜI ĐỀ NGHỊ ĐI BÁN HÀNG ĐÃ ĐỔI HƯỚNG CUỘC ĐỜI TÔI

Năm 1998, tôi xin vào làm tại Văn phòng đại diện Timtex Trading, công ty cung cấp máy móc, thiết bị và phụ tùng cho ngành kéo sợi.

Tôi ứng tuyển vị trí kế toán. Đó là công việc phù hợp với những gì tôi đã học. Làm được thời gian, một ngày nọ, ông chủ nói với tôi:

“Đừng làm kế toán nữa. Suốt ngày bận rộn với những con số cũng chỉ đến một mức nào đó thôi. Đi theo tôi bán hàng.”

Khi ấy, tôi không nghĩ rằng lời đề nghị năm xưa đã mở ra một hướng đi hoàn toàn khác, đưa tôi từ công việc kế toán bước vào hành trình Sales B2B kéo dài gần 30 năm.

Công việc ban đầu của tôi cũng khá gần với môi trường văn phòng: soạn công văn, chuẩn bị báo giá, hợp đồng và hỗ trợ các công việc của ông chủ. Rồi ông bắt đầu đưa tôi cùng đi gặp khách hàng, và đó là cách tôi bước vào làm trợ lý phụ giúp công việc bán hàng cho sếp.

Không có kế hoạch nghề nghiệp được chuẩn bị sẵn. Không có khóa đào tạo bán hàng bài bản. Tôi bắt đầu bằng việc đi theo, quan sát và học hỏi.

Tôi nhìn cách ông chủ nói chuyện với khách hàng, nghe khách đặt câu hỏi, quan sát cách nhà máy đánh giá sản phẩm, càng đi, tôi càng thấy thế giới này rất khác so với những gì tôi từng học.

Khách hàng không đơn giản hỏi: “Máy này giá bao nhiêu?”

Họ còn quan tâm: Máy có phù hợp với nguyên liệu của họ hay không, chất lượng có cải thiện không, năng suất thế nào, tiêu hao hụt ra sao, máy có ổn định không, phụ tùng thế nào, nếu xảy ra vấn đề thì ai xử lý?

Và cuối cùng là câu hỏi quan trọng nhất:

Khoản đầu tư này có thực sự xứng đáng hay không?

Bán máy công nghiệp không chỉ là giới thiệu sản phẩm. Đằng sau mỗi quyết định mua là cả bài toán của nhà máy.

TÔI BƯỚC VÀO THẾ GIỚI KỸ THUẬT

TÔI BƯỚC VÀO THẾ GIỚI KỸ THUẬT MÀ MÌNH GẦN NHƯ KHÔNG BIẾT GÌ:

Sau này, khi rời Công ty Timtex và đến làm việc tại Công ty ACE. Từ năm 2008, tôi đảm nhiệm vai trò Giám đốc ACE Việt Nam và trực tiếp làm bán hàng kỹ thuật . Nhưng có một vấn đề rất rõ:

Tôi không phải là kỹ sư.

Trong khi tôi bán lại là máy móc, thiết bị và phụ tùng kỹ thuật. Muốn nói chuyện được với khách hàng, tôi không thể chỉ biết giá. Muốn làm việc được với chuyên gia nước ngoài, tôi không thể chỉ biết tiếng Anh. Muốn tư vấn cho nhà máy, tôi càng không thể chỉ thuộc catalogue.

Năm 2008, “phòng thực hành đầu tiên” của tôi là chuyến đi cùng chuyên gia nước ngoài đến một nhà máy ở Quận 9 để quấn kim. Khi ấy, tôi đã làm sales trực tiếp: tự tìm khách hàng, tìm hiểu nhu cầu mua hàng, những vấn đề họ đang gặp về máy móc và chất lượng sợi, rồi sắp xếp lịch để chuyên gia sang hỗ trợ.

Trên đường từ công ty đến nhà máy, ngồi trên xe, chuyên gia nói với tôi:

“Thời gian không chờ bạn đâu. Bạn phiên dịch nhưng không phải tôi nói một từ thì bạn dịch một từ. Bạn phải hiểu máy.”

Tôi nghe mà ức lắm, có tiếng nói nhỏ vang lên trong đầu tôi “ tôi đã được đào tạo gì đâu?” Sự thật là, Tôi không được học từ công ty một chương trình kỹ thuật bài bản và tôi cũng không có nhiều thời gian để chuẩn bị trước vì đâu biết ngày mai ông sẽ nói gì với khách hàng . Tôi gần như bước thẳng vào thị trường và học bằng thực tế.

Lúc đó tôi vừa áp lực, vừa tủi thân đến mức bật khóc. Trong đầu tôi chỉ nghĩ: “Tại sao công ty ACE không dạy mình trước? Tại sao ông không nói trước ngày mai sẽ trao đổi gì với khách hàng để tôi còn chuẩn bị? Ông nói tiếng Anh, tôi phải dịch, nhưng nếu tôi không hiểu kỹ thuật thì làm sao dịch cho đúng ?”

Đến nhà máy, tôi vẫn phải bước vào buổi làm việc như bình thường.

Trong phòng bảo trì, một nhóm khoảng 5–6 người cùng chuyên gia thực hành đo độ phẳng của từng thanh xương mui. Khi quan sát chỉ số đồng hồ trên dụng cụ đo kim, ông nói, tôi không hiểu gì để dịch lại . Tôi quay sang nhờ một anh kỹ thuật:

“Anh ơi, dịch cái này dùm em với, Em không hiểu .”

Trong suốt buổi làm việc, tôi còn vài lần phải nhờ anh hỗ trợ. Tôi cảm thấy xấu hổ và trong lòng rất run.

Môi trường nhà máy rất ồn, nhiều bụi, nóng và phải đứng hàng giờ bên máy để theo chuyên gia và khách hàng quấn kim. Chuyên gia trèo lên máy, tôi phải trèo theo để nghe và dịch; ông đi xuống, tôi lại đi xuống cùng.

Thực tế lúc đó tôi chưa hề nghĩ: “Mình phải học kỹ thuật cho bằng được.” Tôi chỉ thấy kỹ thuật quá khó, công việc rất áp lực và có lúc cảm thấy nãn lắm.

Lần thứ hai là chuyến công tác ở Nha Trang. Sáng hôm sau bay thì gần như cả đêm hôm trước tôi thức trắng. Tôi lo:

“Không biết sáng mai kỹ sư sẽ nói gì với khách hàng, rồi tôi sẽ dịch ra sao? Những từ chuyên ngành mình không biết nghĩa thì làm thế nào? Công nghệ chuyên sâu mình đâu biết hết, nếu dịch không được thì quê lắm…”

Những câu hỏi ấy cứ vang lên trong đầu tôi suốt đêm.

Vali đã chuẩn bị đầy đủ, sổ sách và catalogue cũng đã chỉnh chu , vậy mà tôi cứ lật phải, lật trái suốt đêm không thể nào ngủ được. Đến 4 giờ sáng, đồng hồ báo thức vang lên, đã đến lúc phải bắt đầu. Tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân, thay quần áo, gọi taxi ra sân bay. Hơn một giờ sau, tôi đáp xuống sân bay Cam Ranh, mặt trắng bệt vì thiếu ngủ, tôi cố bình tĩnh nhưng rất khó tập trung.

Sau đó chúng tôi đi ăn sáng và đến chỗ khách hàng, buổi làm việc bắt đầu ở văn phòng và tiếp tục xuống nhà máy để quan sát thực tế vận hành của máy móc và xem chất lượng, chuyên gia nói, tôi phiên dịch, có những từ chuyên ngành sâu tôi chưa thể dịch được sát nghĩa nhưng các anh kỹ thuật nhà máy cũng hiểu vì họ rất rành nghề, tôi căng thẳng lắm, tôi nghĩ nếu khi ấy có ai đó chụp ảnh buổi làm việc có lẽ sẽ thấy sự lo lắng hiện rõ trên gương mặt của tôi.

Bây giờ nghĩ lại, tôi rất thương và cũng rất ngưỡng mộ phiên bản trẻ tuổi của mình ngày ấy.

Qua những lần công tác như thế, tôi dần hiểu rằng nếu muốn tiếp tục đi trong nghề bán hàng kỹ thuật, tôi không thể chỉ biết tiếng Anh và biết bán hàng.

Tôi bắt đầu tự học. Tôi dịch tài liệu kỹ thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Tôi phiên dịch giữa chuyên gia nước ngoài và khách hàng. Tôi theo chuyên gia đi lắp ráp và chạy thử máy. Tôi có mặt cùng khách hàng khi nhà máy gặp những vấn đề như kết cao, xù lông cao, độ bền sợi thấp, chất lượng cúi chải chưa ổn định hay tiêu hao cao.

Ban đầu, tôi nghĩ nhiệm vụ của mình là dịch cho đúng. Nhưng càng làm, tôi càng nhận ra:

Muốn dịch đúng thì phải hiểu. Không thể chuyên gia nói một câu, còn tôi chỉ thay từng chữ tiếng Anh bằng tiếng Việt.

Tôi phải hiểu vì sao người ta chỉnh thông số này, vì sao phải thay đổi vị trí đó, một điều chỉnh ở máy chải sẽ ảnh hưởng thế nào đến công đoạn phía sau, hay tại sao sợi thành phẩm có vấn đề nhưng nguyên nhân lại có thể nằm từ cung bông, máy chải hay máy ghép.

Thế là tôi đọc tài liệu, ghi chép thông số, quan sát chuyên gia thao tác, lắng nghe cách khách hàng mô tả hiện tượng và nhìn vào kết quả thực tế sau mỗi lần điều chỉnh.

Cứ như vậy, từng chút một, tôi dần hiểu được mối liên hệ từ nguyên liệu, cung bông, máy chải, máy ghép, máy thô cho đến máy sợi con.

Tôi bắt đầu nhận ra:

Một vấn đề kỹ thuật không thể chỉ nhìn ở nơi nó xuất hiện. Muốn giải quyết đúng, phải lần ngược cả quá trình để tìm đúng nguyên nhân.

Những năm tháng đó là một trường học rất đặc biệt đối với tôi. Không có giáo trình cố định.

  • Khách hàng là người ra đề.
  • Nhà máy là phòng thực hành.
  • Chuyên gia là người chỉ dẫn.

Và mỗi vấn đề thực tế lại cho tôi thêm một bài học mới.

CÓ NHỮNG LÚC TÔI VẪN TIN RẰNG MÌNH CHƯA ĐỦ GIỎI

Từ năm 2008, khi bắt đầu trực tiếp làm bán hàng tại ACE, tôi đã tự mình đi qua gần như toàn bộ quá trình của một thương vụ: tìm hiểu nhu cầu, làm việc với nhà cung cấp để lấy giá, tính toán lợi nhuận cho công ty, chuẩn bị báo giá, đàm phán và hoàn tất hợp đồng. Nhiều thương vụ, ông chủ gần như chỉ là người ký tên sau cùng.

Trong suốt 10 năm đó, tôi đã bán được rất nhiều đơn hàng. Nhưng có những lúc, trong sâu thẳm, tôi vẫn không thật sự tin rằng mình đủ giỏi.

Nhiều lần, ông chủ nói với tôi:

“Nếu không có chuyên gia đi cùng công tác thì làm sao cô bán được hàng? Nhờ công ty có kỹ thuật nên cô mới lấy được đơn hàng.”

Có lần, chuyên gia còn nói với tôi:

“Tôi thấy cô tự tin quá về bản thân mình.”

Những câu nói đó làm tôi dao động rất nhiều. Dù bên ngoài tôi vẫn tiếp tục gặp khách hàng, theo thương vụ và mang đơn hàng về, nhưng trong tiềm thức tôi vẫn nghĩ:

“Mình không phải kỹ sư. Nếu không có chuyên gia nước ngoài đi cùng thì liệu khách hàng có còn mua hàng của mình không?”

Và thực tế, có những lúc việc không phải là kỹ sư khiến tôi cảm thấy rất bất lợi.

Có những thương vụ sau khi bán máy, trong quá trình lắp ráp và chạy thử, chất lượng sản phẩm không đạt như kỳ vọng. Tôi phải tìm thêm người có chuyên môn kỹ thuật cùng xuống nhà máy, kiểm tra từng nguyên nhân có thể xảy ra và phối hợp với chuyên gia để tìm cách xử lý.

Môi trường nhà máy nóng, bụi, ồn ào, công việc kéo dài và áp lực rất lớn. Có những kế hoạch ban đầu chỉ dự kiến vài tuần nhưng thực tế kéo dài lâu hơn nhiều. Thời gian tăng lên, chi phí phát sinh, còn lợi nhuận của thương vụ thì giảm đi đáng kể.

Có lần, chuyên gia của hãng sang Việt Nam lắp ráp máy cho khách hàng. Kế hoạch ban đầu tưởng rằng chỉ cần chuyên gia thực hiện công việc, nhưng khi máy chưa thể chạy ra sản phẩm như yêu cầu, tôi lại phải trực tiếp đi theo nhiều ngày, tìm thêm người có kinh nghiệm để hỗ trợ và cùng các bên xử lý từng vấn đề phát sinh.

Đến những lúc như vậy, tôi lại càng khao khát:

Giá như mình là kỹ sư.

Tôi từng nghĩ rằng nếu mình có nền tảng kỹ thuật tốt hơn, tôi sẽ chủ động hơn, bớt phụ thuộc vào người khác và xử lý công việc hiệu quả hơn.

Nhưng càng làm lâu, tôi càng hiểu rõ một điều: trong vai trò của mình, tôi không nhất thiết phải là người trực tiếp sửa mọi loại máy hay giải quyết mọi vấn đề kỹ thuật.

Điều tôi cần là đủ nền tảng để hiểu vấn đề, đặt đúng câu hỏi, nhận diện đúng người cần tham gia, đánh giá được hướng xử lý và kết nối kỹ thuật với vận hành cũng như kết quả của thương vụ.

Chính những lúc từng nghĩ mình “không đủ giỏi vì không phải kỹ sư” đã khiến tôi học nhiều hơn, đi sâu hơn vào nhà máy và từng bước hình thành khả năng đứng giữa kỹ thuật, vận hành và thương mại.

Và sau này, khi gặp những kỹ sư đang muốn bước sang bán hàng, tôi lại nhìn thấy một nghịch lý rất rõ:

Thứ mà tôi từng mất rất nhiều năm để học và luôn cảm thấy mình còn thiếu, họ đã có sẵn ngay từ đầu: nền tảng kỹ thuật.

TÔI TỪNG NGHĨ: HIỂU SẢN PHẨM VÀ GIẢI THÍCH THẬT RÕ LÀ ĐỦ

Những năm đầu làm bán hàng kỹ thuật, tôi từng nghĩ rằng chỉ cần mình hiểu sản phẩm và giải thích rõ cho khách hàng thì đã có thể bán hàng tốt.

Tôi học máy, học thông số, học nguyên lý, cố gắng trả lời được những câu hỏi của khách hàng. Tôi nghĩ rằng mình hiểu máy và làm cho khách hàng hiểu máy là đủ.

Nhưng càng đi qua nhiều nhà máy và nhiều thương vụ, tôi càng nhận ra:

Hiểu sản phẩm là điều bắt buộc. Nhưng chỉ làm cho khách hàng hiểu sản phẩm thì chưa đủ để họ đưa ra quyết định đầu tư.

Chính từ nhận thức đó, tôi bắt đầu nhìn một thương vụ theo một cách khác.

TỪ BIẾT KỸ THUẬT ĐẾN HIỂU KHÁCH HÀNG – TÔI NHẬN RA MÌNH PHẢI NÓI ĐƯỢC BA NGÔN NGỮ

Càng làm lâu, tôi càng nhận ra trong một thương vụ máy móc công nghiệp, các bên thường đang nói những thứ ngôn ngữ rất khác nhau.

  • Kỹ sư nói bằng thông số: Họ quan tâm tốc độ, cấu tạo, vật liệu, dung sai, quy trình và nguyên lý vận hành.
  • Nhà máy nói bằng vận hành: Họ quan tâm năng suất, chất lượng, hao hụt, nhân công, dừng máy và độ ổn định.
  • Còn người ra quyết định nói bằng hiệu quả đầu tư: Họ muốn biết: Nếu bỏ tiền ra thì doanh nghiệp nhận lại điều gì, chi phí nào giảm, năng suất tăng bao nhiêu, chất lượng cải thiện thế nào, rủi ro có giảm không, bao lâu thì khoản đầu tư này tạo ra hiệu quả?

Tôi bắt đầu hiểu rằng:

Nếu chỉ nói kỹ thuật, chưa chắc người ra quyết định đã nhìn thấy giá trị. Nhưng chỉ nói lợi ích mà không hiểu kỹ thuật, khách hàng cũng khó tin.

Vậy nên tôi học cách đứng ở giữa 03 thế giới. Tôi cố gắng :

  • Hiểu đủ sâu để nói chuyện với kỹ thuật.
  • Hiểu đủ thực tế để biết nhà máy đang gặp vấn đề gì.
  • Và hiểu đủ tư duy kinh doanh để giúp người ra quyết định nhìn thấy một thay đổi kỹ thuật sẽ mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp.

Sau này nhìn lại, tôi mới nhận ra đây chính là một trong những năng lực quan trọng nhất mà công việc đã rèn cho tôi:

Kết nối ngôn ngữ kỹ thuật với tư duy kinh doanh.

08 CHIẾC MÁY ĐẦU TIÊN VÀ BÀI HỌC VỀ NIỀM TIN TRONG B2B

Năm 2012 là một dấu mốc đặc biệt trong hành trình của tôi. Khi đó, thị trường máy ghép tại Việt Nam đã quen thuộc với những thương hiệu có vị thế. Đưa một thương hiệu mới vào thị trường không đơn giản. Khách hàng công nghiệp rất thận trọng.

Một chiếc máy không phải món hàng mua về rồi không thích thì đổi. Đó là khoản đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất trong nhiều năm. Vì vậy, nếu chỉ nói: “Máy của tôi tốt.” thì chưa đủ. Tôi góp phần đưa 08 máy ghép Tianmen đầu tiên vào 03 nhà máy tại Việt Nam.

Với tôi, 08 chiếc máy đó không chỉ là 08 sản phẩm bán được. Đó là những bằng chứng đầu tiên để thị trường tự đánh giá. Máy chạy thế nào, ổn định không, chất lượng ra sao, khách hàng cũ đánh giá thế nào, sau bán hàng có được hỗ trợ hay không?

Tất cả những điều đó quan trọng hơn rất nhiều so với lời giới thiệu của người bán.

Khi những chiếc máy đầu tiên vận hành tốt, niềm tin bắt đầu được hình thành.

Từ 08 chiếc máy tiên phong ban đầu, đến nay hãng đã bán hơn 700 máy ghép Tianmen hoạt động tại các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI. Không phải một mình tôi bán hơn 700 máy mà là tổng hòa của hãng tự bán, tôi và ACE – đại lý của Tianmen bán.

Tôi nhớ bài học đằng sau nó:

Khách hàng B2B không dễ tin chỉ vì người bán nói hay. Niềm tin được hình thành từ bằng chứng, kết quả thực tế, sự nhất quán và trách nhiệm với những gì người bán đã cam kết.

Sales không phải là nói thật nhiều. Sales là giúp khách hàng có đủ cơ sở để đưa ra một quyết định mà họ cảm thấy tin tưởng.

TÔI QUYẾT ĐỊNH ĐI CON ĐƯỜNG RIÊNG

Tháng 9 năm 2018, sau nhiều năm phụ trách hoạt động kinh doanh, tôi rời Công ty ACE. Tôi có thể tiếp tục tìm vị trí ở một doanh nghiệp khác. Nhưng tôi chọn con đường riêng . Tháng 11 năm 2018, tôi thành lập Cty NewTech Trading & Consultant.

Nhiều người nói khởi nghiệp là bắt đầu từ con số 0. Nhưng với tôi, NewTech không bắt đầu như thế. Tôi bước ra với những gì đã tích lũy qua nhiều năm: kinh nghiệm thị trường, kiến thức về máy móc và ngành sợi, mối quan hệ với khách hàng, nhà sản xuất, và quan trọng nhất là chữ tín được xây dựng qua công việc thật.

Nhưng điều khiến tôi lo nhất lúc đó là:

Tôi không có kỹ sư.

Khi còn làm tại ACE, phía sau tôi có chuyên gia hỗ trợ. Nhưng khi bước ra làm riêng, tôi hiểu rằng mọi vấn đề sau bán hàng, lắp ráp, chạy thử hay xử lý sự cố cuối cùng đều sẽ quay về với mình.

Tôi có thể tìm khách hàng, tìm hiểu nhu cầu, làm việc với hãng, xây dựng báo giá, đàm phán và đưa thương vụ đến hợp đồng.

Nhưng nếu máy có vấn đề thì sao?

Nếu khách hàng cần hỗ trợ kỹ thuật ngay thì ai sẽ đi?

Nếu chuyên gia của hãng không xử lý được hoặc không thể sang Việt Nam kịp thời thì tôi sẽ dựa vào ai?

Đó là điều khiến tôi thấy bất an nhất.

Bởi tôi hiểu rất rõ trong B2B kỹ thuật, ký kết đơn hàng chỉ là bước đầu, phía sau đó là lắp ráp, vận hành, chất lượng, sự cố và trách nhiệm với khách hàng.

Vì vậy, khi thành lập NEWTECH, một trong những nỗi lo lớn nhất của tôi không phải là có bán được hàng hay không, mà là:

Nếu khách hàng đã tin mình và mua hàng, mình có đủ năng lực để đồng hành với họ đến cùng hay không?

Đó cũng là lúc tôi cảm nhận rõ hơn bao giờ hết rằng kinh nghiệm bán hàng, quan hệ và uy tín vẫn chưa đủ. Trong ngành kỹ thuật, muốn đi đường dài, tôi phải từng bước xây dựng được năng lực hỗ trợ phía sau thương vụ, để khách hàng không chỉ mua vì tin vào sản phẩm mà còn tin rằng khi có vấn đề, tôi sẽ không bỏ họ một mình.

Tuy nhiên, khi đứng ở vai trò của người vận hành Công ty, tôi bắt đầu nhìn một thương vụ rộng hơn trước. Không còn chỉ là: Khách có mua hay không, mà là: Sản phẩm có thực sự phù hợp không, khách hàng có nhận được hiệu quả sau khi đầu tư không, giá nào vừa cạnh tranh nhưng Công ty vẫn phải có lợi nhuận, điều khoản thanh toán ảnh hưởng thế nào đến dòng tiền, nhà sản xuất có thực hiện được những gì mình đã cam kết hay không, khi có vấn đề sau bán hàng, ai sẽ đứng ra xử lý?

Tôi dần hiểu rằng:

Một thương vụ tốt không kết thúc ở PO.

PO chỉ là một cột mốc. Một thương vụ chỉ thật sự có giá trị khi khách hàng nhận được kết quả như họ kỳ vọng, nhà cung cấp thực hiện đúng cam kết và Công ty vẫn tạo ra lợi nhuận bền vững.

PO không phải đích đến. PO chỉ là điểm bắt đầu của một cam kết thương mại.

MỘT THƯƠNG VỤ THUA GIÚP TÔI HIỂU SÂU HƠN VỀ QUYẾT ĐỊNH CỦA KHÁCH HÀNG

Có thương vụ tôi đã dành rất nhiều thời gian, công sức và kỳ vọng, nhưng cuối cùng khách hàng lựa chọn thương hiệu khác.

Sau đó, khi trao đổi sâu hơn với lãnh đạo, tôi mới hiểu rõ điều họ thực sự quan tâm. Khi ấy, doanh nghiệp đang thiếu lao động rất nhiều, vì vậy khi đầu tư máy mới, điều họ cần không chỉ là năng suất hay chất lượng, mà còn là một giải pháp có mức độ tự động hóa cao hơn, giúp giảm phụ thuộc vào con người nhưng vẫn đảm bảo sản lượng, chất lượng và độ an toàn trong vận hành.

Trong quá trình so sánh các giải pháp, họ đặc biệt đánh giá cao khả năng tự động kiểm soát cự ly bằng hệ thống cảm biến. Với cách này, cự ly làm việc có thể được duy trì ổn định trong suốt quá trình vận hành, ngay cả khi nhiệt độ máy thay đổi và các chi tiết kim loại giãn nở.

Điều đó giúp tôi nhận ra rằng khách hàng không chỉ nhìn vào một thông số kỹ thuật riêng lẻ. Họ nhìn vào ý nghĩa phía sau thông số đó: mức độ tự động hóa, độ ổn định, chất lượng, an toàn và khả năng giảm phụ thuộc vào người vận hành.

Tôi đã rất tiếc khi mất thương vụ này. Nhưng khi nhìn lại, tôi hiểu ra một điều quan trọng:

Khách hàng không lựa chọn sản phẩm chỉ vì sản phẩm tốt. Họ lựa chọn giải pháp phù hợp nhất với vấn đề mà doanh nghiệp đang cần giải quyết.

Và trong trường hợp này, vấn đề cốt lõi không chỉ là máy phải chạy tốt.

Đó là thiếu lao động.

Thương vụ đó giúp tôi hiểu sâu hơn rằng người bán không nên bắt đầu từ việc sản phẩm của mình có gì, mà phải bắt đầu từ điều khách hàng đang thực sự cần giải quyết.

Chẩn đoán đúng vấn đề trước khi đề xuất giải pháp.

SAU HÀNG TRĂM THƯƠNG VỤ, TÔI NHÌN THẤY MỘT QUY LUẬT

Qua nhiều năm làm việc với khách hàng, kỹ sư, chủ nhà máy, hãng sản xuất và hàng trăm thương vụ, tôi bắt đầu nhìn thấy một điều cứ lặp đi lặp lại.

Một sản phẩm có thể rất tốt.

Một kỹ sư có thể hiểu rất sâu.

Một catalogue có thể đầy những thông số ấn tượng.

Nhưng nếu người bán không giúp khách hàng hiểu: “Điều này có ý nghĩa gì đối với nhà máy của tôi?” thì kỹ thuật vẫn chỉ là kỹ thuật đơn thuần mà thôi.

Ví dụ: Một thông số tốt hơn phải dẫn đến điều gì, năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn, tiêu hao thấp hơn, ít nhân công hơn, ít dừng máy hơn, tuổi thọ dài hơn, chi phí vận hành thấp hơn, hay giảm rủi ro mà nhà máy đang phải chịu?

Tôi nhận ra:

Kỹ thuật chỉ thật sự trở thành giá trị khi người bán kết nối được với kết quả mà khách hàng quan tâm.

Từ đó, trong đầu tôi dần hình thành con đường rất rõ:

KỸ THUẬT → VẬN HÀNH → GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI

Sau này, tôi gọi con đường đó là:

TECH-TO-VALUE™

Không phải lý thuyết tôi nghĩ ra trong phòng học.

Cũng không phải công thức tôi đọc được từ sách. Mà nó được hình thành từ chính hành trình tôi đã đi: từ người học tài chính kế toán, không biết kỹ thuật, đến khi có thể đọc và hiểu vấn đề kỹ thuật :

từ việc hiểu máy → đến việc hiểu nhà máy;

từ việc hiểu nhà máy → đến việc hiểu điều gì người ra quyết định thực sự quan tâm.

RỒI TÔI BẮT ĐẦU NHÌN THẤY MỘT VẤN ĐỀ KHÁC

Trong quá trình làm nghề, tôi gặp rất nhiều kỹ sư giỏi. Họ có thể làm việc với máy móc hàng chục năm thậm chí hơn thế. Họ hiểu thiết bị rất sâu. Họ có thể nghe tiếng máy và biết có điều gì bất thường. Họ có thể xử lý những vấn đề mà người bán hàng thuần thương mại không thể hiểu được. Nhưng khi họ chọn bước vào nghề bán hàng, nhiều người lại trở nên lúng túng.

Tôi nhận thấy có những người:

  • Rất hiểu sản phẩm nhưng chưa biết nên trình bày điểm mạnh và lợi ích như thế nào để khách hàng thấy được giá trị.
  • Chủ yếu gửi catalogue, thông số và báo giá rồi chờ khách tự đọc, tự hiểu.
  • Khách hỏi đến đâu thì trả lời đến đó, chưa biết dẫn dắt cuộc trao đổi.
  • Ngại đặt câu hỏi vì sợ khách khó chịu.
  • Thấy khách bảo giá cao thì phản xạ đầu tiên là nghĩ đến giảm giá.
  • Họ tin rằng chỉ cần quan hệ tốt với khách hàng thì thương vụ sẽ thuận lợi.
  • Có rất nhiều kinh nghiệm kỹ thuật nhưng chưa biết biến kinh nghiệm đó thành lợi thế trong bán hàng.

Tôi càng nhìn càng thấy tiếc bởi họ không thiếu năng lực. Họ đang có tài sản rất lớn mà những người như tôi rất thèm khát đó là“ chuyên môn kỹ thuật”. Nhưng họ chưa biết cách chuyển chuyên môn đó thành ngôn ngữ mà khách hàng và người ra quyết định quan tâm.

Nhiều kỹ sư từng chia sẻ với tôi rằng họ muốn chuyển sang bán hàng, muốn có cơ hội phát triển hơn, gia tăng thu nhập, mở rộng các mối quan hệ. Muốn sử dụng chính kiến thức chuyên môn đã tích lũy nhiều năm để tạo ra giá trị lớn hơn.

Nhưng họ không biết bắt đầu từ đâu, không biết cần học những gì. Và đôi khi họ còn nghĩ mình là dân kỹ thuật, không phù hợp với công việc bán hàng.” Nhưng tôi lại nhìn thấy điều ngược lại.

Nền tảng kỹ thuật là lợi thế lớn để trở thành Kỹ sư bán hàng, nếu biết chuyển chuyên môn thành giá trị thương mại.

TÔI NHẬN RA: GẦN 30 NĂM TỰ MÀY MÒ CÓ THỂ ĐƯỢC HỆ THỐNG HÓA THÀNH MỘT QUY TRÌNH

Tôi đã tự học qua từng bản dịch, những chuyến đi nhà máy, câu hỏi của khách hàng, các lần làm việc với chuyên gia, những thương vụ, các cuộc đàm phán, những vấn đề phát sinh và kết quả thực tế.

Nếu những kinh nghiệm ấy chỉ nằm trong đầu tôi, rồi một ngày nào đó chúng cũng sẽ dừng lại cùng tôi.

Tôi bắt đầu nghĩ:

Tại sao những người đi sau phải mất từng ấy năm để tự mò đường giống mình?

Nếu có thể hệ thống hóa những gì tôi đã trải qua thành một phương pháp rõ ràng, kỹ sư có thể đi nhanh hơn rất nhiều. Họ không cần mất quá nhiều thời gian để hiểu rằng: Khách hàng không mua thông số. Khách hàng mua kết quả mà thông số đó tạo ra.

Họ cũng không cần mất nhiều năm để nhận ra rằng bán hàng không phải nói thật hay, mà là hỏi đúng, hiểu đúng, lập luận đúng và giúp khách hàng nhìn thấy giá trị họ nhận được.

Họ càng không cần từ bỏ con người kỹ thuật của mình để trở thành Sales.

Chính nền tảng kỹ thuật là lợi thế giúp họ trở thành một người bán hàng đáng tin cậy.

Đó là lý do tôi bắt đầu hệ thống hóa Tech-to-Value™.

TECH-TO-VALUE™ – CON ĐƯỜNG TÔI MUỐN TRAO LẠI

Tech-to-Value™ bắt đầu từ một tư tưởng rất đơn giản:

Đừng dừng ở việc nói sản phẩm có gì. Hãy giúp khách hàng nhìn thấy giá trị mà sản phẩm tạo ra.

Một Kỹ sư bán hàng cần đi qua ba tầng:

  1. Hiểu kỹ thuật: Nắm rõ máy móc, quy trình và nguyên nhân của vấn đề.
  2. Hiểu vận hành: Biết kỹ thuật đó ảnh hưởng thế nào đến chất lượng, năng suất, hao hụt, nhân công, thời gian dừng máy và độ ổn định.
  3. Hiểu giá trị thương mại: Biết chuyển những tác động đó thành lợi ích mà người ra quyết định có thể nhìn thấy và cân nhắc đầu tư.
  4. Và sau cùng là: Truyền đạt bằng sự tin cậy. Dùng kiến thức, dữ liệu, lập luận và trách nhiệm để giúp khách hàng đưa ra quyết định tốt hơn.

TECH-TO-VALUE™ KHÔNG CHỈ LÀ CÁCH NGHĨ, MÀ LÀ MỘT CÁCH LÀM

Khi hệ thống hóa những gì mình đã làm trong thực tế, tôi nhận ra rằng Tech-to-Value™ không chỉ dừng ở cách tư duy về bán hàng kỹ thuật. Để có thể áp dụng vào từng thương vụ, nó cần trở thành một quy trình rõ ràng.

Tôi hệ thống quá trình đó thành 5 bước:

  1. Bước 1 – THẤU HIỂU NHU CẦU:

    Không vội báo giá khi khách hàng vừa hỏi. Trước tiên phải hiểu vấn đề khách đang muốn giải quyết, mục tiêu cần đạt, những người tham gia vào quyết định mua và điều thực sự quan trọng với từng người.

  2. Bước 2 – CHẨN ĐOÁN VẤN ĐỀ:

    Đi sâu hơn những gì khách hàng đang mô tả để xác định vấn đề thực sự, nguyên nhân cốt lõi và mức độ ảnh hưởng nếu không được xử lý, từ tổn thất về sản lượng, chất lượng, chi phí đến các rủi ro trong vận hành.

  3. Bước 3 – KẾT NỐI KỸ THUẬT VỚI GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI:

    Không dừng ở thông số, tính năng hay giải pháp kỹ thuật. Cần làm rõ giải pháp đó giúp khách hàng gia tăng hiệu quả, giảm chi phí, hạn chế rủi ro và tạo ra giá trị kinh doanh cụ thể như thế nào.

  4. Bước 4 – XÂY THÔNG ĐIỆP VÀ ĐỀ XUẤT:

    Biến kết quả thấu hiểu và chẩn đoán thành thông điệp, email, phần trình bày và bản đề xuất đúng mối quan tâm của người ra quyết định, làm rõ giá trị của giải pháp và tạo cơ sở để khách hàng lựa chọn.

  5. Bước 5 – ỨNG DỤNG VÀO THƯƠNG VỤ THẬT:

    Áp dụng ngay 4 bước trên vào yêu cầu báo giá, bản đề xuất giải pháp hoặc thương vụ đang xử lý để xác định thông tin còn thiếu, người cần trao đổi và hành động tiếp theo giúp thương vụ tiến lên.

Từ đó, Tech-to-Value™ trở thành một cách làm cụ thể:

THẤU HIỂU NHU CẦU → CHẨN ĐOÁN VẤN ĐỀ → KẾT NỐI KỸ THUẬT VỚI GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI → XÂY THÔNG ĐIỆP VÀ ĐỀ XUẤT → ỨNG DỤNG VÀO THƯƠNG VỤ THẬT

Tech-to-Value™ vì thế không chỉ giúp Kỹ sư bán hàng hiểu cách kết nối kỹ thuật với giá trị thương mại, mà còn cung cấp một phương pháp để họ áp dụng trực tiếp vào công việc thực tế — từ hiểu nhu cầu, xác định đúng vấn đề, làm rõ giá trị của giải pháp, xây dựng đề xuất đến lựa chọn hành động tiếp theo cho thương vụ.

NGÀY HÔM NAY, TÔI MUỐN TRAO LẠI CON ĐƯỜNG MÌNH ĐÃ ĐI

Tôi không bắt đầu sự nghiệp như một kỹ sư, cũng không là người bán hàng chuyên nghiệp. Tôi bắt đầu là cô gái học tài chính – kế toán, chỉ mong có một công việc ổn định.

Cơ duyên đưa tôi vào nghề bán hàng. Công việc khiến tôi học kỹ thuật. Khách hàng giúp tôi nhìn rõ vấn đề. Nhà máy cho tôi thấy kết quả thực tế. Và những thương vụ giúp tôi hiểu sâu hơn về giá trị mà người ra quyết định thực sự quan tâm.

Và 30 năm làm nghề giúp tôi nhận ra:

Chuyên môn chỉ thật sự tạo ra giá trị khi được chuyển thành kết quả mà khách hàng và người ra quyết định thực sự quan tâm.

Ngày hôm nay, tôi muốn dùng những gì mình đã tích lũy để giúp kỹ sư đang đứng trước một chặng đường giống như tôi từng đi qua.

Họ đã có chuyên môn, kinh nghiệm và nền tảng kỹ thuật mà nhiều người bán hàng khác không có. Điều họ cần thêm là một phương pháp rõ ràng để chuyển năng lực đó thành giá trị thương mại.

Con đường ấy đi từ:

HIỂU KỸ THUẬT → HIỂU KHÁCH HÀNG → TẠO RA GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI

Tôi không muốn kỹ sư trở thành những người bán hàng chỉ nói hay. Tôi muốn giúp họ phát triển thành những Kỹ sư bán hàng có chiều sâu, được khách hàng tin tưởng vì họ nắm chắc sản phẩm, nhìn đúng vấn đề và làm rõ giá trị của khoản đầu tư.

Tôi tin:

Kỹ thuật không phải là rào cản để bước vào nghề bán hàng. Ngược lại, đó là một lợi thế rất lớn nếu người kỹ sư biết kết nối chuyên môn với giá trị thương mại.

Và đây là điều tôi muốn trao lại:

Tôi bước vào ngành sợi từ một cô gái học kế toán, mất gần 30 năm học cách đi từ kỹ thuật đến vận hành rồi đến giá trị thương mại. Hôm nay, tôi hệ thống hóa con đường đó thành Tech-to-Value™ để những kỹ sư như bạn có thể rút ngắn hành trình, chỉ trong 3–5 năm xây dựng được những năng lực mà tôi đã mất gần 30 năm để tích lũy.

Đó là lý do Tech-to-Value™ ra đời.

Nguyễn Thị Yến Phượng

TÔI LÀ NGUYỄN THỊ YẾN PHƯỢNG.

Tôi giúp kỹ sư phát triển từ nền tảng chuyên môn thành năng lực Kỹ sư bán hàng, để họ tạo ra giá trị lớn hơn cho khách hàng, doanh nghiệp và chính sự nghiệp của mình.

KIỂM TRA READINESS CỦA BẠN
TECH-TO-VALUE™ TECHNICAL EXPERTISE → COMMERCIAL VALUE